VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN VỀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Chủ nhật - 02/12/2018 16:56
Phật giáo Việt Nam đã đứng vững trong lòng dân tộc hơn hai ngàn năm, đã cống hiến cho đất nước biết bao nhân tài, cũng đều nhờ nền giáo dục trong Phật giáo từ xưa tới nay. Thế nhưng hướng đi của giáo dục Phật giáo như thế nào mới là điều quan trọng, vì giáo dục Phật giáo khác với giáo dục thế gian. Mục đích của giáo dục thế gian là nhằm đạt được kiến thức hay biết được những kỹ năng sống.
VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN VỀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
VÀI SUY NGHĨ TẢN MẠN VỀ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
Thích Đồng Niệm
Giáo dục định hình nền văn hóa, văn minh nhân loại. Giáo dục là nền tảng thiết yếu và quan trọng nhất để một xã hội phát triển. Một nền giáo dục hoàn hảo sẽ đào tạo những thế hệ hoàn thiện cả tài và đức, góp phần xây dựng một xã hội lý tưởng, ấy là xã hội vật chất và tinh thần sung mãn phồn thịnh, văn minh, giàu tình nhân ái. Một đường hướng giáo dục lệch lạc sẽ làm băng hoại một thế hệ, kéo theo những hệ lụy đáng tiếc.
 Phật giáo Việt Nam đã đứng vững trong lòng dân tộc hơn hai ngàn năm, đã cống hiến cho đất nước biết bao nhân tài, cũng đều nhờ nền giáo dục trong Phật giáo từ xưa tới nay. Thế nhưng hướng đi của giáo dục Phật giáo như thế nào mới là điều quan trọng, vì giáo dục Phật giáo khác với giáo dục thế gian. Mục đích của giáo dục thế gian là nhằm đạt được kiến thức hay biết được những kỹ năng sống. Còn mục đích của giáo dục Phật giáo là để người học thấy được phương pháp tu tập đã được giảng dạy bởi đức Phật, sau đó thực hành nhằm giải thoát khổ đâu trong kiếp luân hồi.
Mục đích của giáo dục Phật giáo:
Nhiều nền giáo dục khác nhau nhằm đào tạo những con người đáp ứng nhiều mục tiêu khác nhau. Nhưng mục đích giáo dục Phật giáo là nhằm cung cấp hành trang pháp học và pháp hành đầy đủ để một hành giả tu tập hướng tới bốn quả Thánh Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm và A-la-hán. Nhất là những người xuất gia, mục tiêu quan trong nhất và duy nhất của người xuất gia là hiểu đúng và sống đúng với chánh pháp. Còn những mục đích khác như dịch thuật, nghiên cứu, giảng dạy, hoạt động xã hội… là hệ quả tất yếu của một hành giả, không cần phải lấy những chỉ tiêu đó làm mục đích giáo dục Phật giáo. Một vị hành giả có pháp học và pháp hành vững thì tất nhiên có thể viết sách, dịch thuật, giảng dạy…Nhưng nếu quá chú trọng mục đích nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy, hoạt động xã hội… thì xem nhẹ đời sống tu tập, không chú trọng việc thực hành theo giáo pháp của đức Phật, làm lệch chí hướng xuất gia của Tăng ni.
Giáo dục của đức Phật
Đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại, lời Phật dạy thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, có khả năng hướng thượng, đến để mà thấy, chỉ nhắm đến giáo hóa loài người thế gian. Đức Phật, bằng tuệ nhãn quán chiếu thấy rõ căn tánh mỗi người, từ đó chọn phương thức giáo hóa thích hợp, đúng thời đạt hiệu quả, giống như lương y tùy bệnh cho thuốc, do vậy đệ tử ngay thời Phật tại thế tu tập mau thành tựu đạo quả. Tất cả lời Phật dạy được ghi lại trong 5 bộ Nikaya hoặc 4 A-hàm và Tạng luật.
Điển hình, trong Kinh giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala, số 61 thuộc Trung bộ kinh, khi giáo hóa La-hầu-la-một sa-di bảy tuổi, lứa tuổi non trẻ tinh nghịch, Đức Phật dùng ví dụ rất gần gũi thiết thực giảng dạy La-hầu đó là chậu nước, con voi xông chiến trận và gương soi. Với hình ảnh chậu còn ít nước, không còn nước và chậu úp, cũng như con voi khi xông trận dùng tất cả các chi phần trên thân thể nhưng bảo vệ cái vòi. Phật dạy La-hầu-la bài học về lòng trung thực, biết tàm quí, nói lời chân thật, quyết không nói dối, dù là nói chơi. Với gương soi, Phật dạy  Sa-di nên tập ý thức phản tỉnh suy xét mọi hành động của mình nhằm diệt trừ mọi ý niệm, lời nói và hành động bất thiện. Đến Đại kinh giáo giới La-hầu-la, số 62; Tiểu kinh giáo giới La-hầu-la, số 147,  khi La-hầu-la đã trưởng thành một thanh niên có trí tuệ, phong độ uy nghiêm khả kính, thân tướng đẹp đẽ, dung mạo phi phàm, Đức Phật dạy cách quán chiếu phòng hộ căn môn tức hành trì giới và tu tập an trú trong thiền định nhằm không luyến ái, chấp trước tấm thân ngũ uẩn giả tạm, không khởi tâm kiêu mạn. Nhờ hành trì miên mật, La-hầu trở thành vị mật hạnh đệ nhất trong chúng đệ tử.
Đối với vị Bàn-đặc (Cūlapanthaka) do tiền kiếp nặng lời chê bai người nên kiếp này căn tánh chậm lụt, một bài kệ ngắn bố câu cũng không thuộc, Phật quán chiếu thấy rõ khả năng chứng đắc Thánh quả của ông, với mật ý trao cho ông khăn bảo lau gương. Trong quá trình lau gương, Bàn-đặc thức tỉnh, giác ngộ khai thông tuệ nhãn, đắc A-la-hán và bốn tuệ phân tích.
Như vậy, với  trí tuệ siêu việt, Phật quán chiếu biết được chúng đệ tử có những Ba-la-mật sâu dày, những sở trường đặc biệt, thời cơ chứng đắc mà giáo hóa trợ duyên kịp thời cho họ chứng đắc. Ngoài ra, với tài giáo hóa Phật đã hàng phục những người ngoại đạo, khiến họ thức tỉnh giác ngộ, quy y Phật, tu tập chứng Thánh quả. Quả thật, đức Phật là nhà giáo dục vĩ đại tài.
Ngược lại, đối với hàng đệ tử, để ghi nhớ lại những lời dạy của bậc Đạo Sư, chư vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni phải thuộc lòng từng lời Ngài giảng. Kể cả sau đức Phật Niết Bàn tới khi kiết tập kinh điển lần thứ ba, truyền thống học thuộc lòng là cách duy nhất để duy trì lời dạy của đức Thế Tôn. Sau kỳ kiết tập kinh điển lần thức ba, tam tạng được ghi chép trên nhiều chất liệu khác nhau nhưng truyền thống học thuộc lòng vẫn còn tồn tại một vài nơi theo truyền thống Phật giáo Nam truyền cho đến ngày nay. Bởi vì chỉ học thuộc lòng chính lời dạy của đức Phật thì mới tư duy đúng đắn, có tư duy đúng đắn thì mới tu tập đúng đắn. Phải khẳn định rằng: truyền thống học thuộc lòng kinh luật là nền tảng giáo dục đầu tiên đức Phật đã thiết lập. Tuy nhiên, cho đến nay với công nghệ thông tin hiện đại, truyền thống này đang đối trước nguy cơ bị mai một.
Giáo dục kinh điển nguyên thủy và kinh điển bộ phái.
Trong Hán tạng có quá nhiều kinh điển, kinh điển nguyên thủy có, kinh điển các bộ phái có, kể cả kinh điển nghi ngờ có phải là của Phật giáo hay không. Từ lâu nay các trường Phật học cứ lấy trong Đại tạng ra dạy cho thế hệ sau nhưng không biết đâu là gốc, đâu là ngọn. Ngày nay nhờ sự giao thoa văn hóa, nhiều vị không những tiếp xúc với Đại tạng của truyền thống tông phái mình mà còn tiếp xúc được với Đại tạng của những truyền thống tông phái khác nữa. Vì vậy, chúng ta rất dễ dàng thấy được những bộ kinh luật nào gần với Phật giáo nguyên thủy và những bộ kinh luật luận nào thuộc phật giáo bộ phái.
Tất nhiên, dù cho kinh luật thuộc Phật giáo bộ phái hay kinh luật thuộc Phật giáo nguyên thủy thì cũng cần phải học tập, nghiên cứu để biết được sự phát triển tư tưởng Phật giáo như thế nào. Nhưng nếu học để áp dụng vào pháp hành cho mỗi hành giả thì phải căn cư trên những kinh luật gần với Phật giáo nguyên thủy nhất.
Giáo dục theo giới-định-tuệ:
Tam tạng kinh điển được gọi tóm tắt trong ba từ: giới-định-tuệ. Một người học Phật và hành đúng theo giáo pháp của đức Phật phải đầy đủ ba lĩnh vực trên. Nếu thành lập tông phái chỉ xiển dương “giới”, hay chỉ xiên dương “định”, hay chỉ xiển dương “tuệ” thì giáo pháp đó không hoàn toàn đầy đủ.
Trước khi Niết-bàn, đức Phật đi bất kỳ nơi nào cũng nhắc đến giới-định-tuệ: “Ðây là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Định cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu”. –Kinh Đại Bát Niết Bàn-
  • Về giới học:
Luật là bộ môn rất khó, rất chi tiết nhưng lại rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp vào đời sống phạm hạnh của người xuất gia. Thế nhưng chương trình dạy luật cũng chỉ mới dừng ở ba quyển luật tiểu cho Sa di do ngài Châu Hoằng biên soạn và bài cảnh sách của Ngài Quy Sơn. Nhưng sự thật chỉ có quyển Oai nghi được trích trong luật Tứ phần ra, còn quyển Tỳ ni được trích trong kinh Hoa Nghiêm và quyển Thập giới do Ngài Châu Hoằng căn cứ trên mười giới Sa di tự viết ra. Kể cả những chương trình học lên cao nữa trong hệ thống giáo dục Phật giáo vẫn không thấy dạy luật một cách rõ ràng. Hệ quả là Tăng ni trẻ sau này không nắm vững luật, đây là điều cực kỳ nguy hiểm cho hậu thế.
Có ý kiến cho rằng chưa thọ giới thì không được học luật, đây là ý kiến rất vô lý. Bởi vì trước khi thọ giới phải học luật cho thật kỹ để biết được có khả năng giữ được hay không rồi mới phát tâm thọ nhận. Hơn nữa trong thời đức Phật có rất nhiều cư sỹ giỏi cả kinh tạng và luật tạng như nàng Khujjutara đã thuộc lòng hai tạng và dạy cho cung phi mỹ nữ trong cung vua Udena xứ Kosambi.
  • Về định học:
Định học là những đề mục thiền định giúp hành giả định tâm. Theo Thanh Tịnh Đạo thì có tất cả 40 đề mục thiền định bao gồm: theo dõi thơi thở vào ra, mười biến xứ, tứ vô lượng tâm, quán tứ đại, sáu tùy niệm, quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của tử thi. Kết quả của thiền định là đạt được sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tuy thiền định không giúp hành giả đoạn trừ hoàn toàn phiền não nhưng nó hỗ trợ rất lớn cho việc tu thiền quán.
  • Về tuệ học:
Phần tuệ học chiếm nhiều nhất trong kinh Tạng. Tất cả những giáo lý: tứ đế, mười hai nhân duyên, ngũ uẩn, tứ niệm xứ… đều thuộc về phần Tuệ. Khi nói đến tuệ là nói đến thiền quán (vipassana). Mục đích của thiền quán là để thấy được sự thật của các pháp: vô thường, khổ, vô ngã. Từ sự thấy được thực tướng của các pháp các lậu hoặc mới đoạn trừ và chứng bốn Thánh quả.
Điều quan trọng là vị giáo thọ phải có kinh nghiệm tu tập về giới-định-tuệ để giảng dạy một cách có rõ ràng và có khả năng giải đáp mọi vướng mắc trong pháp hành cho Tăng ni sinh. Có thực hành mới hiểu đúng giáo pháp, có thực hành học mới hiểu sâu lời dạy của đức Phật. Mục đích đức Phật nói kinh là để mình thực hành, vì vậy khi dạy và học một bài kinh phải chú trọng phương pháp tu tập của bài kinh đó như thế nào. Đức Phật luôn luôn nhấn mạnh pháp hành để sự xuất gia của Tăng ni không trở thành trống không, vô ích. Sự đoạn tận khổ đau trong vô lượng kiếp luân hồi, chứng đắc Thánh quả đều do sự tinh tấn: “Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh, thì đời này không vắng những vị A-la-hán”. – Kinh Đại Bát Niết Bàn-
Cuối cùng, người viết xin đề xuất:
  • Đối với giới: nên dưa luật Tứ phần vào chương trình Trung cấp Phật học. Không chỉ học Luật trên giảng đường mà còn áp dụng vào trong đời sống cộng trú tu học của Tăng ni sinh.
  • Đối với định và tuệ: nên giảm bớt một số môn không quan trọng và thỉnh những vị có kinh nghiệm pháp hành dạy thêm hai môn thiền định thực hành và thiền quán thực hành trong suốt khóa học. Ngoài giờ học chính thức, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày của Tăng ni sinh cũng phải có những thời thiền tọa và thiền hành.
  • Giảm bớt học thuộc lòng những bài do giáo thọ viết ra và chú trọng học thuộc lòng những đoạn kinh, luật quan trọng chính kim khẩu đức Phật đã nói.

Tác giả bài viết: Thích Đồng Niệm

Chú ý: Việc đăng lại bài viết trên ở website hoặc các phương tiện truyền thông khác mà không ghi rõ nguồn http://phathocviennguyenthieu.vn là vi phạm bản quyền

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Videos
Thống kê
  • Đang truy cập2
  • Hôm nay34
  • Tháng hiện tại824
  • Tổng lượt truy cập118,692
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây